Chào mừng quý vị đến với website của trường THCS Nguyễn Thị Định
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
BÀN VỀ TỨ THƠ

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Văn Thọ (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:52' 18-05-2011
Dung lượng: 11.2 KB
Số lượt tải: 121
Người gửi: Trần Văn Thọ (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:52' 18-05-2011
Dung lượng: 11.2 KB
Số lượt tải: 121
Số lượt thích:
0 người
BÀN VỀ TỨ THƠ
Tác giả: PGS.TS NGUYỄN THÁI HÒA
Tứ thơ còn gọi là thi tứ, một từ khá quen thuộc với tao nhân mặc khách ngày trước và có lúc đã được dùng để dịch từ inspiration. Từ inspiration còn được dịch là “cảm hứng”, “thi hứng”, nhưng không hoàn toàn tương ứng với khái niệm tứ thơ (thi tứ), một khái niệm hết sức hàm súc, phong phú mà nền văn hóa Á Đông lâu đời của chúng ta đã đúc kết được.
Tứ thơ hết sức quan trọng đối với người làm thơ. Nhà thơ Xuân Diệu cho rắng: “Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ, làm thơ khó nhất là tìm tứ”, “ thường thường người làm thơ gặp phải bí, là bí tứ, chứ không phải bí ý hay bí lời” (N.T.H nhấn mạnh). Nhưng tứ là gì, tứ khác ý ở chỗ nào?
Theo Xuân Diệu, ý là “…suy nghĩ, khái quát nhận định”, cái này thì ai cũng có thể có, không riêng gí nhà thơ. Nhưng “khi ý “đầu thai” thành cảm xúc, tình cảm, ý ấy trở thành tứ, đó là tứ thơ”, “ý là chung của mọi người, tứ mới là riêng của mỗi thi sĩ” ( Trích “Công việc làm thơ”, NXB Văn Học, tr. 117-118-120). Có thể phát triển cụ thể hơn ý kiến của Xuân Diệu là: Ý có thể chưa thành tứ, nhưng tứ bao giờ cũng có ý cộng thêm cảm xúc, nhạc điệu, hình tượng thơ từ cái nhìn riêng của nhà thơ.
Bằng kinh nghiệm của người làm thơ, Xuân Diệu chỉ nói đến cái ý, cái tứ thơ của toàn bài. Nhà thơ thường lấy cái ý, cái tứ trung tâm mà tỏa ra toàn bài, còn từ (=lời) là “cái quan trọng thứ hai”. Thế nhưng người đọc thơ thì bao giờ cũng đi ngược lại với quá trình làm thơ: bắt đầu là từ rồi đến ý và tứ. Vậy là ngược chiều với nhà thơ đi từ đầu đến chân, còn người đọc lại men từ chân lên đầu. Và như vậy, ở mỗi dòng thơ, câu thơ, người đọc có thể lĩnh hội được những ý nhỏ, tứ nhỏ, tiến dần đến ý trung tâm của toàn bài thơ. Có lẽ ai đọc thơ cũng phải theo con đường độc đạo ấy. Có điều trong lộ trình này, ta khám phá ra sự chuyển động từ ý sang tứ, rồi tứ nâng lên thành ý và ý lại triển khai thành tứ mới lạ hơn, đẹp đẽ hơn. Cứ như vậy cho đến khi kết thúc. “ Thơ là hình thái nghệ thuật ngôn từ vận động trong thời gian”, một nhà nghiên cứu đã nói như vậy. Và quả đúng như vậy!
Xin lấy một bài thơ ngắn gọn, bài thơ “Đợi’ của nhà thơ Vũ Quần Phương làm minh chứng, để thay cho nhiều minh chứng khác. Chỉ là minh chứng thôi, chứ không dám bình, vì bài này đã có nhiều người bình rồi.
Tòan bài thơ Đợi như sau:
Anh đứng trên cầu đợi em
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm
Ngày xưa đã chảy, nay còn chảy
Nước chảy bên lòng, anh đợi em.
Anh đứng trên cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy, lại bên này
Đợi em. Em đến? Em không đến?
Nắng tắt, còn anh đứng mãi nơi đây.
Anh đứng trên cầu đợi em
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời em quen thành lạ.
Nước chảy . . .Kìa em, anh đợi em.
Mở đầu bài thơ bằng:
Anh đứng trên cầu đợi em
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm
Ngày xưa đã chảy, nay còn chảy
Với ba dòng đó, thơ phác họa khung cảnh, nhân vật, nhưng cũng chỉ mới là ý, ai cũng biết và ai cũng có thể nghĩ được như thế. Nhưng tiếp theo là:
Nước chảy bên lòng, anh đợi em.
thì “tứ” đã xuất hiện: “ Nước chảy bên lòng”, chứ không phải nước chảy xuôi dòng nữa. Một nỗi niềm, một tâm trạng, một cái nhìn, một sự so sánh đánh giá riêng của một người, trong một tâm thế đặc biệt! Nước thì cứ chảy, chảy bên long anh, còn anh cứ đứng đợi.
Tứ đó được triển khai mở rộng thêm:
Anh đứng trên cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy, lại bên này
Thơ chẳng cần nói
Tác giả: PGS.TS NGUYỄN THÁI HÒA
Tứ thơ còn gọi là thi tứ, một từ khá quen thuộc với tao nhân mặc khách ngày trước và có lúc đã được dùng để dịch từ inspiration. Từ inspiration còn được dịch là “cảm hứng”, “thi hứng”, nhưng không hoàn toàn tương ứng với khái niệm tứ thơ (thi tứ), một khái niệm hết sức hàm súc, phong phú mà nền văn hóa Á Đông lâu đời của chúng ta đã đúc kết được.
Tứ thơ hết sức quan trọng đối với người làm thơ. Nhà thơ Xuân Diệu cho rắng: “Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ, làm thơ khó nhất là tìm tứ”, “ thường thường người làm thơ gặp phải bí, là bí tứ, chứ không phải bí ý hay bí lời” (N.T.H nhấn mạnh). Nhưng tứ là gì, tứ khác ý ở chỗ nào?
Theo Xuân Diệu, ý là “…suy nghĩ, khái quát nhận định”, cái này thì ai cũng có thể có, không riêng gí nhà thơ. Nhưng “khi ý “đầu thai” thành cảm xúc, tình cảm, ý ấy trở thành tứ, đó là tứ thơ”, “ý là chung của mọi người, tứ mới là riêng của mỗi thi sĩ” ( Trích “Công việc làm thơ”, NXB Văn Học, tr. 117-118-120). Có thể phát triển cụ thể hơn ý kiến của Xuân Diệu là: Ý có thể chưa thành tứ, nhưng tứ bao giờ cũng có ý cộng thêm cảm xúc, nhạc điệu, hình tượng thơ từ cái nhìn riêng của nhà thơ.
Bằng kinh nghiệm của người làm thơ, Xuân Diệu chỉ nói đến cái ý, cái tứ thơ của toàn bài. Nhà thơ thường lấy cái ý, cái tứ trung tâm mà tỏa ra toàn bài, còn từ (=lời) là “cái quan trọng thứ hai”. Thế nhưng người đọc thơ thì bao giờ cũng đi ngược lại với quá trình làm thơ: bắt đầu là từ rồi đến ý và tứ. Vậy là ngược chiều với nhà thơ đi từ đầu đến chân, còn người đọc lại men từ chân lên đầu. Và như vậy, ở mỗi dòng thơ, câu thơ, người đọc có thể lĩnh hội được những ý nhỏ, tứ nhỏ, tiến dần đến ý trung tâm của toàn bài thơ. Có lẽ ai đọc thơ cũng phải theo con đường độc đạo ấy. Có điều trong lộ trình này, ta khám phá ra sự chuyển động từ ý sang tứ, rồi tứ nâng lên thành ý và ý lại triển khai thành tứ mới lạ hơn, đẹp đẽ hơn. Cứ như vậy cho đến khi kết thúc. “ Thơ là hình thái nghệ thuật ngôn từ vận động trong thời gian”, một nhà nghiên cứu đã nói như vậy. Và quả đúng như vậy!
Xin lấy một bài thơ ngắn gọn, bài thơ “Đợi’ của nhà thơ Vũ Quần Phương làm minh chứng, để thay cho nhiều minh chứng khác. Chỉ là minh chứng thôi, chứ không dám bình, vì bài này đã có nhiều người bình rồi.
Tòan bài thơ Đợi như sau:
Anh đứng trên cầu đợi em
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm
Ngày xưa đã chảy, nay còn chảy
Nước chảy bên lòng, anh đợi em.
Anh đứng trên cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy, lại bên này
Đợi em. Em đến? Em không đến?
Nắng tắt, còn anh đứng mãi nơi đây.
Anh đứng trên cầu đợi em
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời em quen thành lạ.
Nước chảy . . .Kìa em, anh đợi em.
Mở đầu bài thơ bằng:
Anh đứng trên cầu đợi em
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm
Ngày xưa đã chảy, nay còn chảy
Với ba dòng đó, thơ phác họa khung cảnh, nhân vật, nhưng cũng chỉ mới là ý, ai cũng biết và ai cũng có thể nghĩ được như thế. Nhưng tiếp theo là:
Nước chảy bên lòng, anh đợi em.
thì “tứ” đã xuất hiện: “ Nước chảy bên lòng”, chứ không phải nước chảy xuôi dòng nữa. Một nỗi niềm, một tâm trạng, một cái nhìn, một sự so sánh đánh giá riêng của một người, trong một tâm thế đặc biệt! Nước thì cứ chảy, chảy bên long anh, còn anh cứ đứng đợi.
Tứ đó được triển khai mở rộng thêm:
Anh đứng trên cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy, lại bên này
Thơ chẳng cần nói
Rất cảm ơn thầy Thọ gởi bài hay, mình sẽ học tập để nâng dần khả năng làm thơ cho vui. Khi nào rảnh ta làm thơ xướng họa giao lưu nhé thầy Thọ!
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất